VỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM TRONG CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN HIỆN NAY

Nguyễn Kim Hồng

(Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh)

Gần 3 tháng kể từ khi nhận được thông báo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội về viết bài cho Hội thảo nâng cao chất lượng nghiệp vụ  sư phạm cho sinh viên các trường đại học sư phạm, hôm nay, tôi mới chắp bút được bài viết này. Phải thú thực là nghiệp vụ sư phạm không phải là nghề nghiệp của tôi, cũng không phải là cái gì đó quá mới mẻ,

 

nhưng để đổi mới nó như mong muốn của những người tổ chức hội thảo thì không thể nói rằng dễ.

Ai cũng biết việc học trong trường là quan trọng, nhất là việc học nghề. Học không đến nơi đến chốn dễ không có việc, mà có việc đôi khi mất việc là chuyện bình thường. Học để hành nghề dạy học càng khó, bởi nó khó làm theo một khuôn mẫu cứng nhắc, không như ông thầy mộc truyền dạy cưa, dạy đục cho học trò. “Sản phẩm” mà người thầy giáo tham gia “làm ra” không được phép sai sót.

Một giảng viên của trường tôi, đang theo học Tiến sĩ ở Úc về giáo dục, có tâm sự thế này: “Tụi em băn khoăn quá. Đến đây thấy mọi thứ học ở họ đều khác. Không biết rồi về đến nhà sẽ làm ra sao? Tiếp cận với chương trình đào tạo giáo viên của các nước Phương Tây, Úc và Hoa Kì mới thấy chương trình đào tạo giáo viên cần thay đổi quá nhiều điều, cả về cấu trúc chương trình đào tạo cũng như cách thức đào tạo… Nhưng chúng ta có chương trình khung đã được ban hành và phải tuân thủ. Ngay cả muốn thay đổi cũng khó bởi không phải thành viên nào trong hội đồng thẩm định chương trình cũng đủ sự cởi mở và được cập nhật thông tin đa chiều để có thể đánh giá được sự đổi thay mà lớp cán bộ trẻ mang về sau những năm tháng được học tập ở nước ngoài”. Tôi nói với các bạn rằng, trong những thứ bảo thủ thì bảo thủ giáo dục là một thứ bảo thủ nhất - người ta gọi là sức ỳ. Nhưng nếu những gì các bạn học được là sản phẩm khoa học đích thực thì sẽ có chỗ cho nó phát triển thôi. Tôi tin vào những gì mà giáo dục tạo ra được trên thế giới ở các nước tiên tiến thì nó sẽ được phát triển ở Việt Nam. Vấn đề là đừng chậm trễ và điều tôi muốn chúng ta cần thảo luận hơn là liệu có một Khoa học giáo dục thực sự Việt Nam?

Cũng chính người chất vấn tôi nói rằng: những điều các bạn học được ở Hoa Kì, ở Anh, ở Úc sẽ khó thực hiện ở Việt Nam vì nền giáo dục của chúng ta, trong đó có các cơ sở đào tạo giáo viên quá hàn lâm. Chị nói thêm với tôi rằng, cách đây khoảng 4 năm, một Tập đoàn giáo dục đã đến khoa của chị để đề nghị trường đào tạo giáo viên Mầm non cho họ. Các giáo viên này sẽ dạy ở các trường quốc tế sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh. Họ bảo chỉ cần học trong 18 tháng thì có thể làm việc được – trong chương trình của Đại học Dunendin, có các khóa học cấp chứng chỉ tương đương hệ Sơ cấp, có chương trình Cao đẳng (diplom) 2 năm và có cả chương trình đào tạo giáo viên hệ Đại học 3 năm (trong khi giáo viên Mầm non của chúng ta hiện nay đang đào tạo 4 năm hệ Đại học và rất rất nhiều người đang học chuẩn hóa giáo viên Mầm non).

Trong một buổi nói chuyện với GS.TSKH. Hồ Ngọc Đại về nghiệp vụ sư phạm, Giáo sư hỏi tôi: “cậu biết những cuốn sách nào của mình viết về nghiệp vụ sư phạm?”. Tôi trả lời Giáo sư rằng, tôi có đọc 3 cuốn sách của giáo sư: cuốn thứ nhất có tên “Bài học là gì” (hình như được viết từ đầu những năm 80 của thế kỉ trước), cuốn thứ hai có tên “Cái và cách” và cuốn thứ ba là “Nghiệp vụ sư phạm”. Giáo sư hỏi: cậu có thấy sự khác biệt gì trong 3 cuốn sách nói trên không. Tôi trả lời: cuốn đầu hàn lâm hơn, cuốn thứ hai và thứ ba với tôi là như nhau bởi cả hai cuốn đều nói đến “cái và cách” - cuốn thứ ba kĩ hơn vì nó có những ví dụ cụ thể. Giáo sư bảo: thế là cậu đọc sách của mình thật. Tôi sợ, không dám nói về nghiệp vụ sư phạm nữa vì đọc cả ba cuốn sách của Giáo sư mà chỉ được mỗi câu nhận xét “cậu đọc sách của mình thật” thì chẳng nên nói nghiệp vụ sư phạm ở đây làm gì (vì có nói chỉ càng làm lòi cái dốt trước mặt các nhà giáo dục thôi). Vì thế, tôi xin được nói về mô hình đào tạo giáo viên, về nghiệp vụ sư phạm trước (đoạn tôi dốt nhất tôi xin được nói sau).

Trước hết, xin được nhắc lại quan điểm của người viết bài này (đã nhiều lần viết trên các phương tiện thông tin) về mô hình đào tạo giáo viên: Nên kết hợp mô hình đào tạo truyền thống với mô hình đào tạo giáo viên cho những người đã tốt nghiệp một đại học - tôi gọi là mô hình hiện đại. Mô hình đào tạo giáo viên truyền thống phù hợp với việc đào tạo giáo viên bậc Mầm non và Tiểu học. Mô hình đào tạo giáo viên cho những người muốn hành nghề dạy học khi đã có một bằng đại học phù hợp hơn với việc đào tạo giáo viên trung học (cơ sở và phổ thông). Hiện nay, mô hình trong các trường sư phạm của Việt Nam chủ yếu là mô hình truyền thống. Nay, có một mô hình mới hình như đã có tên Đại học Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội. Biết đâu, một trường đào tạo giáo viên kiểu như thế sẽ ra đời ở Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh nay mai.

Trong nhiều cuộc hội thảo, chúng tôi đã nêu vấn đề về sự cần thiết phải giảng dạy môn học “Xây dựng chương trình học” trong các trường Sư phạm. Nhưng cho đến nay (tôi được biết Trường Sư phạm TW 2 có đưa môn học “Phân tích và phát triển chương trình học” vào chương trình đào tạo. Khoa Giáo dục Mầm non trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh cũng dự định đưa môn học này vào chương trình chính khóa từ năm 2010) môn học này vẫn chưa được giảng dạy trong chương trình chính khóa ở các trường Đại học sư phạm. Cũng may thay, nó được cấu trúc trong chương trình nghiệp vụ sư phạm dành cho những giảng viên của các trường sư phạm với hai đơn vị tín chỉ. Điều chúng tôi muốn nói trong hội thảo này là trong khi chương trình đào tạo giáo viên bậc Trung học ít có sự khác biệt (trừ họ dạy môn chương trình học như là môn học bắt buộc) thì có sự khác biệt rất lớn giữa chương trình đào tạo giáo viên Mầm non và Tiểu học ở Việt Nam và một số nước mà tôi biết như Australia và New Zealand chẳng hạn. Ở đó, chương trình đào tạo giáo viên rất năng động. Có chương trình 1 năm, 2 năm cho bậc Trung học cấp chứng chỉ (Certificate), cao đẳng (Diplom) và 3 năm cho đào tạo giáo viên tiểu học và Mầm non.

Ở ta, xu thế đang diễn ra là học đại học để làm giáo viên Mầm non và Tiểu học. Không tranh cãi về sự cần thiết phải được đào tạo ở trình độ nào để dạy bậc học nào, nhưng ví dụ về một tổ chức giáo dục quốc tế muốn mời chúng ta cung cấp giáo viên bậc Mầm non chỉ với 2 năm đào tạo cũng cho thấy sự khác biệt giữa ta và họ là quá lớn. Điều tôi thấy ở đây là trong chương trình (Programme) đào tạo giáo viên Tiểu học và Mầm non mà chúng tôi trích dẫn ở trên, nhiều môn học (Subject) được gắn với cái tên “chương trình” (curriculum), như: Curriculum Art, Curriculum English, Curriculum Mathematics, Curriculum Health and Physical Education, Curriculum Science and Technology, Curriculum Social Studies[1]… Khi dẫn điều này, tôi muốn nói đến một thực tế là giáo viên của ta hiện nay không có khả năng xây dựng chương trình học, nhất là việc làm các framework. Vì thế, nhiều giáo viên cứ kêu là chương trình nặng, kêu là sách giáo khoa dài nên cháy giáo án. Nếu giáo viên các bậc học được học kĩ về xây dựng chương trình học thì hệ thống bài giảng và từng bài giảng phải do họ (thường là một nhóm giáo viên cùng chuyên môn) thiết kế. Làm được như vậy chắn chắn những lời kêu ca về chương trình học bậc phổ thông sẽ giảm hẳn.

Một điều nữa tôi nhận thấy sinh viên trong các trường sư phạm hiện nay chưa được trang bị kiến thức về tự học và cách tổ chức tự học. Nếu giáo viên không biết tự học thì anh ta không thể là người “học suốt đời” như đã nêu trong 4 trụ cột giáo dục thế kỉ 21 của UNESCO. Ngày nay, tất cả học sinh đều có khả năng tự học. Nếu thầy cô giáo không có khả năng tự học và biết cách giúp học sinh tổ chức tự học thì không thể hành nghề dạy học trong thế kỉ 21. Hôm rồi, nói chuyện với GS. TSKH Hồ Ngọc Đại, GS có nói anh đang viết một cuốn sách về Công nghệ học. Tôi nói là tôi có trong tay vài cuốn sách của Tony Buzan[2], vài cuốn của Adam Khoo đã dịch ra tiếng Việt. Tất cả những cuốn sách ấy đều cho rằng, con người ta có một bộ não với số lượng noron thần kinh mà một người như tôi không thể nhớ, rằng gần như số lượng các noron ấy trong mỗi con người được trời phú cho gần như nhau - có nghĩa là không có sự khác biệt đến mức có thể phân biệt người này với người kia trên phương diện xác suất. Nhưng tại sao trẻ em trong tất cả các trường học trên thế giới đều được xếp vào các nhóm học lực khác nhau - đó chính là cái lỗi của giáo dục. Tôi cũng muốn con cái mình giỏi và cố đọc những cuốn sách của Tony Buzan và Adam Khoo, nhưng có lẽ, vào cái tuổi có trên 30 năm dạy học rồi khó có thể nuốt được những cuốn sách như vậy. Nhưng nếu Tony Buzan và Adam Khoo đúng thì cái lỗi để học sinh kém, để học sinh không nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức được học trong nhà trường là cái lỗi của giáo dục. Tôi rất muốn có một cuốn sách dạy người ta sử dụng bộ não của mình do người Việt Nam viết. Không biết có ai sẽ làm được cái việc ấy trong tương lai.

Tôi rất thích cái công thức mà GS.TSKH. Hồ Ngọc Đại đặt ra trong hai cuốn sách “cái và cách” và “nghiệp vụ sư phạm”: quá trình giáo dục chỉ đi từ cái đã biết đến cái chưa biết và công việc của nhà giáo dục là “cách thức” làm cho học sinh biến cái đã biết của các em trong quá khứ đến “cái mới” (chỉ mới với các em, không mới có khi cả với bạn bè trang lứa, người khác, thầy cô và nhất là không mới với khoa học). Toàn bộ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM HIỆN ĐẠI LÀ cái CÁCH – chữ dùng của Hồ Ngọc Đại. Vậy thì trường sư phạm phải là người dạy cái CÁCH để biến cái đã biết đã có trong học sinh thành cái mới (kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành vi, đạo đức…) trong từng học sinh. Quả là khó, chỉ với hai từ cái và cách thôi, nhưng tôi hiểu đó là sự cống hiến hết sức mình của nhà sư phạm đấy! Cái Cách mà các nhà sư phạm thường gọi là phương pháp giảng dạy ấy được giảng dạy trong tất cả các trường sư phạm từ khi có các khoa/trường đào tạo giáo viên, cho đến nay đã làm được nhiều cho nhiều thế hệ học sinh nhưng sao tôi thấy vẫn chưa hiệu quả.

Vì sao vậy? Để tìm lời giải cho câu hỏi này, tôi nhớ tới một lần được diện kiến với GS. Văn Như Cương tại Trung tâm Văn hóa và Giao lưu quốc tế do GS.TSKH. Lê Ngọc Trà đứng đầu (thuộc Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh), GS Văn Như Cương có nói đại ý rằng sở dĩ giáo sinh của chúng ta không đứng lớp tốt được là do trường sư phạm có bộ môn Phương pháp giảng dạy (GS còn nói thêm nhiều điều nữa nhưng do không thể nhớ nguyên văn nên tôi không dám trích dẫn ở đây) - và GS nói thêm, tôi nói điều đó trong phạm vi khoa Toán của Đại học Sư Phạm Hà Nội mà tôi biết thôi đấy nhé (đúng phong thái nhà khoa học - GS chỉ bàn luận và phát biểu ý kiến những gì giáo sư biết chắc). Ồ thì ra là, môn học Phương pháp giảng dạy mà chúng tôi học trong suốt học kì hai của năm thứ 3 và học kì 1 của năm thứ 4 cùng bao nhiêu kiến thức khác từ Tâm lí học, Giáo dục học xem ra không đủ để trình bày một bài giảng. Ấy là suy nghĩ lúc bấy giờ. Còn lúc này, tôi nghĩ rằng, thầy giáo chỉ là người tổ chức (bên ngoài) quá trình chiếm lĩnh kiến thức của học sinh (bên trong). Những kiến thức về Tâm lí học, Giáo dục học và nghiệp vụ sư phạm không đủ để các giáo sinh trong các trường sư phạm tổ chức dạy học như lí thuyết dạy học ngày nay đã đưa ra. Cuốn “Cái và cách” cũng như cuốn “Nghiệp vụ sư phạm” do Nhà xuất bản Đại học sư phạm phát hành theo tôi là một cuốn sách hay dùng cho sinh viên các trường sư phạm. Chắc còn nhiều người có thể chưa hoặc không đồng ý với ý kiến của tôi nhưng xin hãy cứ tranh luận.

Ở các nước phát triển, người ta trả lương cho giáo sinh đi thực tập. Chuyện này ở ta khó làm. Nhưng có những chuyện làm được, ấy là việc các Sở Giáo dục và Đào tạo, nhất là ở nơi có các trường đại học trú đóng phải tạo điều kiện cho giáo sinh các trường sư phạm tham gia giảng dạy và giáo dục. Nên chăng, các Sở Giáo dục và Đào tạo luôn thông tin trên website về việc nhận giáo sinh đến thực tập. Các trường sư phạm chỉ nên xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn đánh giá giáo sinh. Giáo sinh sẽ tự liên hệ để thực tập. Tôi biết hiện nay đã có trường áp dụng mô hình này. Việc thực tập của sinh viên không chỉ còn là nỗi lo riêng của trường sư phạm nữa.

Ý kiến sau cùng của tôi liên quan gián tiếp đến việc đào tạo và sử dụng giáo viên trên quan điểm nghề nghiệp. Hiện nay, sau khi sinh viên sư phạm tốt nghiệp, mang hồ sơ đi xin việc ở các Sở Giáo dục và Đào tạo; các Sở Giáo dục và Đào tạo căn cứ vào nhu cầu sử dụng giáo viên và năng lực của giáo sinh để nhận người. Tôi biết, ở một số nước người ta bắt những người dạy học phải có chứng chỉ hành nghề. Chứng chỉ hành nghề do Hiệp hội giáo viên vùng cấp. Nên chăng hình thành những trung tâm này ở Việt Nam, những trung tâm này sẽ là người phản biện xã hội đầu tiên với sản phẩm của các cơ sở đào tạo giáo viên.

Để kết thúc tham luận này, tôi xin được nói về cái bục giảng. Có người bảo ông thầy kém là ông thầy dựa vào bục giảng “chỉ cao hơn học sinh có 40 phân” (ấy là bục giảng cao). Thầy giáo ngày xưa đến là ngồi vào bàn, là kiếm phấn để viết bảng. Cái bục, bảng đen, phấn trắng và người thầy như dính vào một khối đến mức các nhạc sỹ viết về thầy cô giáo phải lấy cái hình ấy để khắc họa người thầy. Giáo dục hiện đại chỉ coi cái bàn của thầy là phương tiện để đặt các dụng cụ mà thầy mang theo (hoặc nhà trường để sẵn). Để làm thầy giáo giỏi thời hiện đại phải biết ra khỏi bàn bước xuống lớp học, ở bên học sinh và ở sau học sinh. Đơn giản vậy nhưng là cả một bước tiến không chỉ mang tính hình thức về giáo dục đấy.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Dunedin College of Education: Calendar 2003, trang 82, 117

[2] Cuốn “Sơ đồ tư duy” (The Mind map)) – bản dịch của Lê Huy Lâm. “Sử dụng trí tuệ của bạn” (Use Your Head)) – bản dịch của Lê Huy Lâm, “bản đồ tư duy trong cộng việc” (Mind maps at work) – bản dịch của nhóm New Thingking Group;

Top