Việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên mầm non (GVMN) hiện nay là nhiệm vụ của các trường sư phạm. Trong quá trình đào tạo sinh viên khoa mầm non không những được trang bị kiến thức lý luận về khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục mầm non nói riêng; đồng thời còn được thực hành rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm mầm non. Chất lượng của quá trình đào tạo phụ thuộc không nhỏ vào kết quả của việc thực hành rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trong thời gian học tập ở các trường sư phạm Mầm non.
Thực hành rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (RLNVSP) cho sinh viên (SV) là một vấn đề quan trọng, không thể thiếu trong quá trình đào tạo sinh viên mầm non, bởi thông qua đó mà mỗi giáo viên tương lai được rèn luyện nâng cao tay nghề.
Nghề giáo viên mầm non là lĩnh vực hoạt động giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi. Nghề GVMN có một đặc thù khác với các cấp bậc học khác, nó đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo trong quá trình lao động. Trẻ em càng nhỏ sự giáo dục càng khó bởi vì vốn ngôn ngữ, hiểu biết của trẻ còn hạn chế, cơ thể đang trên đà hoàn thiện và phát triển nên đòi hỏi giáo viên phải có chức năng vừa chăm sóc, vừa giáo dục vì thế GVMN đóng vai trò quan trọng như người mẹ, người thầy giáo để có thể đảm bảo được trách nhiệm đối với trẻ.
Với khuôn khổ bài báo chúng tôi đưa ra một số ý kiến và bàn luận xung quanh vấn đề kỹ năng quản lý lớp, kỹ năng đánh gía học sinh cũng như kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng trẻ khi sinh viên đi thực tập ở trường mầm non qua những đợt giám sát sinh viên thực tập trong những năm gần đây. Đó là một trong những vấn đề còn nhiều hạn chế khi sinh viên xuống cơ sở thực hành.
II. BÀN LUẬN
2.1. Kĩ năng quản lý lớp học.
Qua điều tra và quan sát trực tiếp các đoàn sinh viên thực tập tại các trường mầm non trong 2 năm trở lại đây cho thấy: 20% giáo viên hướng dẫn thực tập cho sinh viên cho rằng kĩ năng quản lí lớp của sinh viên chưa thực sự tốt, 25% ý kiến lại có nhận xét khác rằng sinh viên đã có kĩ năng quản lí lớp ở mức độ tốt. Có tới hơn 50% ý kiến thấy khó đánh giá kĩ năng này ở SV. Theo quan sát khách quan chúng tôi cũng thừa nhận kĩ năng quản lí lớp học của sinh viên thực tập (SVTT) rất khó đánh giá bởi vì thời gian thực tập của SV ít nên SV không được trực tiếp quản lí hồ sơ, sổ sách của lớp cũng như không được trực tiếp đón, trả trẻ và trao đổi với phụ huynh. Chính vì thế khi đánh giá kĩ năng này của SV chúng ta chỉ có thể đánh giá dựa trên việc quản trẻ và bao quát trẻ trong mọi hoạt động của SV. Khi trao đổi với các GVHD về vấn đề này chúng tôi thấy rằng đây là đợt TT tốt nghiệp của SV nên phần lớn các em đã có khả năng quản trẻ tốt. Tuy nhiên việc bao quát trẻ trong các hoạt động - đặc biệt là hoạt động học tập- thì SV vẫn còn gặp nhiều khó khăn do các em chưa linh hoạt trong cách giải quyết các tình huống sư phạm “ Mỗi khi tổ chức các hoạt động các em vẫn mang nặng tâm lí thực hiện và nói đúng theo giáo án nên khi gặp những tình huống bên ngoài nhiều em không xử lí được”. Hơn nữa cũng bởi vì phải dạy với số lượng trẻ quá đông, SV lại chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên các em còn yếu trong quá trình quản trẻ, do đó sự giao lưu giữa cô và trẻ, sự quản lí lớp học trong giờ học của SV còn nhiều hạn chế.Một yếu tố nữa gây khó khăn trong quá trình quản trẻ là do thời gian tiếp xúc với trẻ không nhiều, nhóm đông nên thời gian đầu sinh viên không thể nhớ hết tên trẻ, bên cạnh đấy “trẻ thấy các cô giáo trẻ, không phải cô giáo của lớp mình nên sinh viên nhắc nhở trẻ không nghe lời dễ gây mất trật tự của lớp”.
Một yếu tố nữa không thể không đề cập đến là khả năng tự tin của sinh viên, đó cũng là một trong kỹ năng sống của không ít các em còn hạn chế. Khi xuống trường các em còn rụt rè, rất ít em dám nói lên chứng kiến của mình. Tâm lý chung của sinh viên không dám phát biểu những vấn đề mình thấy không đúng, sợ giáo viên hướng dẫn phật lòng, sợ bạn bè cho là người nói nhiều, người hay thắc mắc. Chính vì thế khi có những cuộc trao đổi trực tiếp với sinh viên tại cơ sở thực tập để lấy ý kiến trưng cầu của các em về tình hình khó khăn thuận lợi trong quá trình xuống trường thì mở đầu cuộc trao đổi đa phần các em không dám xung phong là người đầu tiên phát biểu ý kiến của mình, chúng tôi phải chủ động, gợi ý và động viên thì em đầu tiên phát biểu trước sau đó các em khác mới phát biểu ý kiến của mình. Tâm tư nguyện vọng của các em rất muốn thầy cô của trường Đại học nếu càng theo sát tình hình thực tập của sinh viên bao nhiêu thì tất cả những khó khăn vướng mắc trong quá trình sinh viên thực tập có thể trao đổi trực tiếp với thấy cô và tư vấn cho các em để có thể phản ánh với trường thực hành kịp thời và giải quyết công việc được thuận lợi hơn. Theo ý nghĩ của các em thầy cô giáo của trường Đại học là “người nhà mình” nên sinh viên dễ chia sẻ và lấy ý kiến tư vấn. Chính khả năng tự tin của sinh viên càng tốt bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho sự tiếp cận với giáo viên hướng dẫn cũng như với trẻ càng thuận lợi và thúc đẩy nhanh quá trình rèn kỹ năng quản lý lớp. Vấn đề này đã được nhà trường Sư phạm Hà Nội và các khoa của trường từng bước cải tiến trong đợt tổ chức thực tập sư phạm gần đây. Đồng thời nhận thức vai trò quan trọng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nên đã có những khoa, Viện nghiên cứu của trường đã và đang thử nghiệm mô hình giáo dục kỹ năng sống cho các em ngay tại trường Sư phạm.
2.2. Kỹ năng đánh giá học sinh
Qua việc điều tra bằng phiếu câu hỏi cho thấy 40% số ý kiến cho rằng đây cũng là một kĩ năng khó đánh giá ở sinh viên, 25 % số ý kiến lại khẳng định kĩ năng đánh giá kết quả hoạt động của trẻ ở sinh viên chưa tốt, 35% số ý kiến lại khẳng định rằng kĩ năng này của SV là rất tốt. Thực ra những con số này chỉ cho chúng ta sự chính xác ở mức độ tương đối. Trên thực tế chúng tôi thu được qua quá trình quan sát một số hoạt động mà SV đã tổ chức cho trẻ cho thấy việc nhận xét đánh giá trẻ trong quá trình hoạt động của SV còn rất sơ sài. Thông thường cứ sau mỗi hoạt động (hoạt động chung, hoạt động góc…) SV đều có phần nhận xét đánh giá trẻ nhưng việc làm này chỉ mang tính hình thức. Ví dụ sau mỗi giờ hoạt động chung SV thường nhận xét rằng: “Hôm nay chúng mình đã học rất ngoan, rất giỏi, cô khen cả lớp và sẽ thưởng cho cả lớp một phần thưởng…” hoặc sau mỗi giờ hoạt động góc cô thường cho trẻ đến tập trung ở một nhóm chính (thông thường là nhóm xây dựng) để nhận xét. Việc đánh giá, nhận xét của SV cũng không làm cho trẻ cảm thấy thú vị, hấp dẫn nên hầu như trẻ không hề thấy hứng thú đối với hoạt động này. Do đó chúng tôi có thể khẳng định rằng kĩ năng đánh giá học sinh ở SVTT còn yếu và cần phải bồi dưỡng thêm cho SV trong quá trình học lí thuyết cũng như khi đi xuống thực tế ở các trường mầm non.2.3. Về kĩ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng trẻ
Các giáo viên hướng dẫn thừa nhận sinh viên thực tập đã được trang bị đầy đủ về kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ MN trước khi xuống trường nhưng về kĩ năng chăm sóc sức khỏe cho trẻ như cách làm vệ sinh cá nhân cho trẻ, vệ sinh nhóm lớp, cách tổ chức giờ ăn, giờ ngủ....thì SVTT còn yếu nhất trong tất cả các kỹ năng yêu cầu của SVTT khi xuống trường. Thời gian đầu các kỹ năng chưa đạt yêu cầu, các em còn lúng túng khi thực hiện các thao tác, từ thao tác đơn giản đến thao tác phức tạp và sử lý tình huống trong các thời điểm như giờ ăn, giờ ngủ, vệ sinh cá nhân trẻ, vệ sinh môi trường (không ít sinh viên còn lúng túng không biết cách lau nhà thế nào là đúng qui cách của ngành đề ra....). Qua tìm hiểu thực tế cũng như trao đổi trực tiếp với sinh viên cho thấy: trong thời gian thực tập thường xuyên (năm thứ 3), các em ít có thời gian được trực tiếp làm các thao tác mà chủ yếu đứng quan sát. Bên cạnh đó vì không có đầu điểm cho các thao tác cụ thể về các hoạt động của chăm sóc sức khỏe mà chỉ đánh gía chung về hoạt động giáo dục trong ngày nên giáo viên hướng dẫn cũng như nên sinh viên ít quan tâm. Tuy nhiên SVTT có ý thức tốt, có tính cầu tiến cao nên khi nhận được sự giúp đỡ từ GVHD thì SVTT có sự tiến bộ rõ rệt so với thời gian đầu và sau khi kết thúc đợt thực tập, kể cả nhà trường giao bất cứ việc gì sinh viên cùng làm với ý thức tự giác, không ngại khó, ngại khổ “Sinh viên không ngại khó, ngại bẩn, làm bất cứ việc gì khi nhà trường giao nhiệm vụ kể cả xuống hổ trợ cho nhà bếp”. Đây là điểm nổi bật của sinh viên hệ đại học so với các hệ đào tạo khácIII. KẾT LUẬN
Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình đào tạo giáo viên. Đây cũng là một công việc đòi hỏi có sự đầu tư toàn diện, từ quan điểm nhận thức đến hành động trong quản lý và tổ chức thực hiện. Trong những năm gần đây, các trường đào tạo giáo viên đã có sự quan tâm đầu tư đáng kể cho hoạt động bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ sư phạm , nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới. Tuy nhiên trong quá trình rèn kỹ năng nghề cho sinh viên cần phải từng bước cải tiến về nội dung cũng như hình thức tổ chức thực tập sư phạm trong đó có kỹ năng nghề nói chung và kỹ năng quản lý lớp trong các nội dung của thực tập sư phạm, cần phải có sự nố lực cố gắng không những của sinh viên mà còn cả trường sư phạm cũng như trường thực hành và phải khẳng định rằng, không làm tốt việc nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm thì không thể tạo ra người thầy giáo toàn diện; sản phẩm đào tạo sẽ không được xã hội chấp nhận.IV. KIẾN NGHỊ
- Để nâng cao chất lượng cho sinh viên nên tăng thêm thời gian cho SV xuống trường thực tế, thực tập, thực hành.- Nên tăng thêm các đầu điểm cho SVTT ở các độ tuổi để SV có cơ hội trải nghiệm tất cả các môn học.
- Rất cần thiết tổ chức các buổi hội thảo đánh giá tổ chức TTSP giữa trường ĐHSPHN, Khoa GDMN và các trường mầm non thực hành.
- Nếu có điều kiện nên tổ chức cho SV được đi tham quan các cơ sở MN ở các tỉnh khác.
- Về phương pháp rèn luyện NVSP cho SV điều quan trọng nhất là vận dụng các biện pháp cụ thể để phát huy tính tích cực hoạt động của trẻ MN. Bên cạnh đó là đưa ra hệ thống các cách giải quyết các tình huống sư phạm trong thực tế ở trường MN.
- Về hình thức tổ chức việc rèn luyện NVSP cho SV thì việc quan trọng nhất là nên tăng cường thời gian thực hành, thực tập của SV tại trường MN. Đồng thời nên kết hợp thường xuyên giữa giảng dạy lý thuyết với thực hành. Hơn nữa cũng nên cho SV xem đĩa hình, giáo án chuẩn của các đợt thi GV giỏi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ GD $ ĐT- Trường Đại học sư phạm HN- Khoa GD mầm nonChương trình thực tập sư phạm cho SV khoa giáo dục MN. Hà nội 2000
2. Phạm Xuân Hậu
Vài nét về việc nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm trong thời kỳ hội nhập. Kỷ yếu hội thảo nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường đại học- Đại học Sư phạm Hà Nội 1/2010
3. Nguyễn Thu Tuấn
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ cho sinh viên các trường Đại học Sư phạm. Kỷ yếu hội thảo nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường đại học- Đại học Sư phạm Hà Nội 1/2010
4. Trần Anh Tuấn
Xây dựng qui trình tập luyện các kỹ năng giảng dạy cơ bản trong các hình thức thực hành thực tập sư phạm. Luận án PTS khoa học sư phạm Tâm lý. Hà Nội 1998.
Ts. Tào Thị Hồng Vân
Viện NCSP - ĐHSP Hà Nội
Viện NCSP - ĐHSP Hà Nội














