MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NGIỆP VỤ SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐỒNG NAI HIỆN NAY TRONG XU THẾ HỘI NHẬP, TOÀN CẦU HÓA

Lê Quang Tân

Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai

Dạy học là một nghề đặc biệt-nghề trồng người. Cho dù được đào tạo theo khung chương trình nào thì người giáo viên cũng phải đáp ứng được một số yêu cầu chung nhất định, đó là chuyên môn và tay nghề - các kỹ năng nghiệp vụ sư phạm.

Qua thực tế đào tạo NVSP trong những năm qua, trường CĐSP Đồng Nai đã xác định việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này là nhiệm vụ thường xuyên và cải tiến từng bước để nâng cao tay nghề cho sinh viên. Song trên thực tế vẫn còn có nhiều bất cập. Trong bài viết này tôi xin trình bày thực trạng và giải pháp đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở trường CĐSP Đồng Nai hiện nay trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.

1. Thực trạng về đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sư phạm

Việc đào tạo NVSP ở trường CĐSP Đồng Nai trong những năm qua có sự chuyển biến tích cực, song trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập về chương trình, về đội ngũ giảng viên, hệ thống quản lý, cơ sở vật chất và hệ thống các kỹ năng về NVSP... và chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của đất nước, của công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.

Việc hình thành hệ thống kỹ năng sư phạm cho sinh viên trong những năm qua vẫn còn bộc lộ những thiếu sót:

Thứ nhất, chương trình đào tạo NVSP chủ yếu chỉ mới dừng lại ở việc hình thành các kỹ năng như cách trình bày vấn đề, viết, vẽ bảng, diễn giải, gợi mở vấn đề bằng hệ thống câu hỏi, xử lý tình huống sư phạm... Trong khi đó các kỹ năng như làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học, kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục, kỹ năng gắn lý thuyết với thực tiễn địa phương, kỹ năng kiểm tra, đánh giá, tự đánh giá... chưa được chú trọng.

Thứ hai, đội ngũ giảng viên dạy NVSP chưa được đào tạo bài bản, chủ yếu là theo kinh nghiệm công tác, không phải tất cả giảng viên đều có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết thực tế phổ thông. Phần lớn đội ngũ giảng viên chưa có trình độ cao về chuyên môn, các năng lực phát triển nghề nghiệp cũng còn rất khiêm tốn.

Thứ ba, công tác chỉ đạo, giám sát, điều hành, kiểm tra, đánh giá... các hoạt động có liên quan đến đào tạo NVSP đang gặp rất nhiều khó khăn và chưa coù söï quan taâm ñuùng möùc töø caùc caáp quaûn lí.

Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất cần thiết cho lớp học NVSP còn thiếu: lớp tập giảng, dụng cụ thí nghiệm, thiết bị phục vụ dạy học (như máy chiếu đa năng, tranh ảnh, tài liệu, phòng tự học…)

2. Một số giải pháp nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên

Để nâng cao năng lực NVSP cho sinh viên CĐSP Đồng Nai hiện nay trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, theo tôi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, chương trình đào tạo NVSP: Phải mang tính đặc thù cho từng khoa và bộ môn; phải linh hoạt cho từng trình độ, hoàn cảnh và mục đích học tập khác nhau; phải thường xuyên cập nhật chương trình; tích hợp lồng ghép nội dung NVSP trong các môn học liên quan.

Hai là, đội ngũ giảng viên: Cần phải đào tạo đội ngũ giảng viên tham gia dạy NVSP, trong đó có cả giảng viên dạy Tâm lý học và Giáo dục học một cách bài bản và có hệ thống; trang bị cho họ những kiến thức căn bản, cập nhật về chuyên môn - nghiệp vụ, về thực tế đñòa phöông vaø các trường THCS treân ñòa baøn.

Ba là, ý thức của sinh viên: Khi vào trường ĐHSP vaø CÑSP sinh viên phải ý thức được rằng họ học tập và rèn luyện để trở thành những người giáo viên THCS tương lai. Bởi vậy bản thân họ phải nhận thức được đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác đào tạo NVSP trong quá trình học tập và vì vậy họ cần phải chủ động và tự giác tự học và tham gia các hoạt động về NVSP.

Bốn là, cách quản lý và tổ chức thực hiện: Với phương châm tranh thủ mọi cơ hội, mọi tình huống có thể để sinh viên được đào tạo NVSP, Ban Giám hiệu, phòng chức năng của các trường sư phạm phải nghiên cứu qui trình thực tế, kiến tập, và thực tập sư phạm của sinh viên, bao gồm cả thời gian, địa điểm, kinh phí, cách đánh giá, kiểm tra quá trình thực tế, kiến tập và thực tập sư phạm.

Theo tôi, cần cho sinh viên bám sát thực tế giáo dục phổ thông ngay từ khi bắt đầu nhập học đến khi ra trường. Đối với sinh viên năm thứ nhất và thứ 2 nên bố trí từ 1-2 tuần, mỗi tuần 1 buổi tiếp xúc và làm quen với trường phổ thông; năm thứ 3 thực tập 8 tuần với nội dung thay đổi và nâng cao dần.

Năm là, có chuẩn chung về đào tạo giáo viên: Trong bối cảnh của toàn cầu hóa, phát triển bền vững cũng như đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà đang đặt ra cho nhà giáo những vận hội mới và thách thức mới đòi hỏi những người giáo viên tương lai phải thích ứng một cách nhanh, nhạy với nền kinh tế thị trường và nền kinh tế tri thức, xem việc xây dựng và hoàn thiện mới một chương trình đào tạo NVSP ở các trường ĐHSP vaø CÑSP theo một chuẩn chung là rất cấp thiết. Đó là nội dung các môn học về NVSP. Phải có những môn bắt buộc như Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn; số giờ thực tập, thực tế tại các cơ sở giáo dục; đặc biệt cần phải có một chương trình bắt buộc dành cho các lớp bồi dưỡng NVSP, trong đó phải có yêu cầu bắt buộc về thực tập sư phạm.

3. Một số năng lực sư phạm cần phải được hình thành ở sinh viên

Việc đào tạo NVSP cho sinh viên sẽ có hiệu quả và chất lượng khi chúng ta hình thành và phát triển được ở sinh viên những kỹ năng sư phạm sau đây:

Một là, kỹ năng soạn, giảng. Kỹ năng phân tích nội dung dạy học, từ đó xác định được mục tiêu, yêu cầu bài giảng, xác định được các đơn vị kiến thức trong bài, biết chọn kiến thức cơ bản, kiến thức trọng tâm, kiến thức bổ trợ...

Kỹ năng lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với trình độ phát triển tư duy của học sinh, sử dụng các phương tiện dạy học trong việc soạn bài và lên lớp đặc biệt kỹ năng sử dụng đa phương tiện.

Kỹ năng tổ chức các hình thức dạy học, phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm qua từng giờ giảng của người giáo viên phổ thông.

Hai là, nghiệp vụ chủ nhiệm. Kỹ năng thiết kế, xây dựng kế hoạch chủ nhiệm nhằm giúp người giáo viên chủ nhiệm vạch ra được chiến lược phát triển của tập thể lớp và cá nhân học sinh.

Kỹ năng tổ chức các hoạt động của tập thể lớp, của cá nhân học sinh, tổ chức các hoạt động của chính giáo viên chủ nhiệm một cách chính xác, khoa học giúp giáo viên thực hiện các kế hoạch đã xây dựng một cách hiệu quả.

Các kỹ năng giao tiếp, ứng xử sư phạm, xử lý các tình huống. Các kỹ năng hoạt động công tác Đoàn, Đội, hoạt động ngoại khóa, văn thể nhằm giúp giáo viên có khả năng làm quen với học sinh một cách nhanh chóng, dễ dàng chiếm được cảm tình, tạo được các ấn tượng tốt trong việc giáo dục học sinh và các hoạt động tập thể có hiệu quả.

Ba là, tổ chức các hội thi. Trong nhiều năm qua, trường CĐSP Đồng Nai rất chú trọng đến việc tổ chức các hội thi, cải tiến nội dụng và hình thức thi. Hội thi nghiệp vụ sư phạm hàng năm đã thu hút nhiều sinh viên các khối lớp tham gia với các nội dung chính sau:

- Giới thiệu đơn vị và giao tiếp: Nhập vai giáo viên lần đầu nhận lớp, giao tiếp với học sinh.

- Hiểu biết sư phạm: Chủ đề về người giáo viên với sự nghiệp giáo dục, ngành sư phạm với xã hội, với công cuộc đổi mới của đất nước.

- Xử lý các tình huống sư phạm.

- Trình bày bảng (viết đẹp, đúng ngữ pháp, trình bày sáng sủa, khoa học).

- Văn nghệ, kể chuyện (tự chọn).

Thông qua các hình thức thi, sinh viên không những nắm vững thêm kiến thức chuyên môn mà còn rèn cho mình các kỹ năng tổ chức, kỹ năng diễn đạt, cách sử dụng ngôn ngữ và các thiết bị hỗ trợ khác... Hơn nữa, các hội thi này (hội thi Sinh học vui, hội thi Toán học, Văn học...) còn giúp ích cho các em sau khi ra trường.

Bốn là, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu. Tự học, tự nghiên cứu không phải là một năng lực có sẵn. Để bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên cần chú trọng:

- Tạo động cơ nhận thức (phát hiện và nêu vấn đề) dựa vào mâu thuẫn nhận thức, nêu các vấn đề thực tế đời sống đang đòi hỏi nghiên cứu để giải quyết.

- Chỉ ra con đường nhận thức (hướng suy nghĩ để giải quyết vấn đề), cách tư duy để tự chiếm lĩnh kiến thức mới.

- Hướng dẫn nguồn tìm kiếm thông tin: tài liệu tham khảo, bài giảng, giáo trình hoặc từ internet.

- Trao đổi với giảng viên để hiểu rõ tri thức mới thu nhận.

Việc vận dụng linh hoạt các bước trên tùy thuộc khả năng của mỗi sinh viên. Biết tự học, tự nghiên cứu suốt đời là một bí quyết của thành công.

Năm là, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin. Việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở tất cả các bậc học, các ngành học, các môn học đã giúp thay đổi căn bản phương pháp dạy, phương pháp học, kích thích hứng thú học tập, đem lại niềm say mê sáng tạo cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Do vậy, cần chú trọng bồi dưỡng các kỹ năng cho sinh viên:

- Sử dụng một số phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng, sử dụng máy tính để xây dựng các giáo án, bài giảng điện tử, trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập...

Việc tổ chức các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng CNTT trong dạy học để từ đó có thể thúc đẩy và nâng cao hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng cần được quan tâm.

Sáu là, Kỹ năng kiểm tra đánh giá. Việc đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức của học sinh; Kiểm tra đánh giá kết quả học tập bảo đảm yêu cầu công khai, công bằng, khách quan, chính xác, toàn diện và phát triển năng lực tự đánh giá của học sinh; sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để điều chỉnh dạy và học; đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức một cách khách quan, công bằng, chính xác và có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của học sinh. Hiện nay có hai phương pháp chính sử dụng trong đánh giá là: đánh giá định hình (liên quan đến viêc sử dụng các cách đánh giá thường xuyên trên lớp học lấy thông tin phản hồi để cải thiện việc dạy và việc học) và đánh giá cuối kì (cách thức đo những gì HS học được ở cuối mỗi tập hợp các hoạt động học tập).

4. Kết luận

Để nâng cao năng lực NVSP cho sinh viên sư phạm, theo tôi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp như đổi mới chương trình đào tạo NVSP, đào tạo đội ngũ giảng viên đạt chuẩn, quản lý tổ chức thực hiện, nâng cao ý thức tự học của sinh viên.

Việc đào tạo NVSP cho sinh viên sẽ có hiệu quả và chất lượng khi chúng ta hình thành và phát triển được ở sinh viên những kỹ năng sư phạm như kỹ năng soạn giảng, nghiệp vụ chủ nhiệm, tổ chức các hội thi, tự học, tự nghiên cứu... Muốn có được những kỹ năng sư phạm tốt sinh viên không thể một sớm một chiều là có ngay kết quả. Kết quả chỉ đạt được khi và chỉ khi có sự hợp lực của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục và sự nỗ lực cố gắng của người học - sinh viên sư phạm.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Tụ, Vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học sư phạm- thực trạng và giải pháp, theo http://khuyentaiclub.net

2. Sinh viên rèn luyện kỹ năng, hội nhập cùng thế giới theo http://doanthanhnien.vn

Top