TƯ TƯỞNG TÍCH HỢP THỂ HIỆN TRONG CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA TIỂU HỌC VIỆT NAM

ThS. Đào Thị Hồng

Viện NCSP - Trường ĐHSP Hà Nội

Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong giáo dục (GD). Hiểu đúng và làm đúng quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối với từng phân môn trong một thể thống nhất các môn học ở Tiểu học.

Ngành GD nước ta đang triển khai tư tưởng tích hợp, điều này được thể hiện một phần trong CT & SGK các môn học ở tiểu học.

1. Tư tưởng tích hợp trong môn Tiếng Việt

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Văn học, tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả GD và tiết kiệm thời gian học tập cho người học. Có thể tích hợp theo chiều dọc hay chiều ngang.

Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy. Hướng tích hợp này được sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 thực hiện thông qua hệ thống các chủ điểm học tập. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít được gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước.

Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc), cụ thể là: Kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới. Có thể lấy một ví dụ trong cuốn sách Tiếng Việt để làm rõ điều này:

Trong bộ SGK, chủ điểm được chọn làm khung cho cả cuốn sách (chủ điểm Gia đình, Nhà trường, Xã hội, Thiên nhiên và đất nước…). Mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học tập. Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy chôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn. Từ lớp 2 đến lớp 3, mỗi chủ điểm được dạy trong hai tuần; vòng đồng tâm xoáy chôn ốc ở đây thưa hơn: Phải sau một năm, học sinh trở lại với chủ điểm đã học. Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủ điểm được dạy trong 3 tuần và chỉ xuất hiện một lần.

Về nội dung, cả ba lớp đầu cấp, toàn bộ các bài học đều được xây dựng theo các chủ điểm: Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên. Tuy vậy các chủ điểm được mở rộng và nâng cao dần ở mỗi lớp. Ví dụ ở lớp 2,các chủ điểm trên được chia nhỏ với các tên gọi như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân. Đến lớp 3, các chủ điểm từ tuần 1 đến tuần 6 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) tuy quen thuộc nhưng đã được mở rộng và nâng cao một bậc so với lớp 2; các chủ điểm từ tuần 7 đến tuần 32 (Cộng đồng, Quê hương Bắc- Trung – Nam, Anh em một nhà, Thành thị- nông thôn, Bảo vệ Tổ Quốc, Sáng tạo, Văn hóa – Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất) thể hiện nội dung hoàn toàn mới so với lớp 2.

Như vậy, môn Tiếng Việt đã quán triệt tư tưởng tích hợp trong CT & SGK, vì môn học này có những cơ sở  chung để  thực hiện tích hợp thuận lợi. Trong dạy học Tiếng Việt, tích hợp hiểu một cách đơn giản là dạy đọc, viết, nghe, nói, Làm văn, Luyện từ và câu… hợp nhất, hòa trộn và nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại. Như thế mới tránh được những vướng mắc dư thừa hay chồng chéo nội dung trong quá trình dạy học Tiếng Việt và Làm văn, luyện từ và câu như trước đây. Có thể khẳng định việc thực hiện tích hợp trong phạm vi môn Tiếng Việt sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn ở các môn học khác. Hạt nhân hợp lí ở đây là hướng tới mục tiêu chung là hình thành, rèn luyện bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS và đều dựa vào một chủ điểm. Với sự mở rộng việc lựa chọn các chủ điểm như thế trong SGK sẽ tạo cơ hội và cơ sở tích hợp trong DH Tiếng Việt đậm đặc hơn. Tuy nhiên, sự lựa chọn chủ điểm không thể tùy tiện. Tiêu chuẩn đầu tiên để chọn chủ điểm được dùng chung này là phải đảm bảo mọi thuộc tính riêng của Tập đọc,  Làm văn, Chính tả phải được hòa kết với nhau thì mới tạo nên “tam vị nhất thể” rõ ràng, nổi lên trên mọi thuộc tính đa biệt. Như vậy, từ bốn kĩ năng được dạy tách biệt đã được hợp nhất về một môn có tên gọi Tiếng Việt và đựơc nhất thể hóa về nội dung kiến thức, kĩ năng, phương pháp theo quan điểm tích hợp. Với cách tích hợp này, Tiếng Việt theo xu hướng tích hợp nội môn.

2. Tư tưởng tích hợp trong môn Thủ công

Căn cứ vào đặc điểm của môn học, trong đó đặc điểm tổng hợp của môn học được thể hiện rõ: Môn Thủ công - Kĩ thuật được coi là khoa học ứng dụng, cơ sở của nó là các môn: Toán, Lí, Sinh, Địa, Mĩ thuật, Tự nhiên và Xã hội,… vì vậy, để dạy tốt môn học này, GV cần phải biết kết hợp hai chiều với các môn học, biết vận dụng các kiến thức có liên quan của môn học vào dạy Thủ công - kĩ thuật; đồng thời thông qua dạy Thủ công để củng cố và làm rõ ý nghĩa kiến thức của các môn học khác có liên quan. Do đặc điểm trên, tính tích hợp được thể hiện trong nội dung chương trình và sách giáo khoa rất rõ nét:

- Giai đoạn 1 (từ lớp 1 đến lớp 3), HS được học thủ công với các nội dung: Kĩ thuật xé giấy; kĩ thuật gấp hình; kĩ thuật cắt, dán; kĩ thuật làm đồ chơi

- Giai đoạn 2 (lớp 4, 5), HS học kĩ thuật: Kĩ thuật cắt, khâu, thêu, trồng hoa, rau; kĩ thuật lắp ghép mô hình cơ khí. Trong chương trình của mỗi giai đoạn đòi hỏi phải trang bị một số kiến thức của các môn học khác hoặc phải phối hợp chặt chẽ nhiều môn học liên quan.

- Yếu tố Toán học đựợc tích hợp trong nội dung Xé, dán:

Lớp 1, HS làm quen với kiến thức hình học như: Xé, dán hình vuông, hình tròn, chữ nhật, tam giác. Để thực hiện nội dung trên, học sinh phải biết sử dụng bút chì, thước kẻ để kẻ các đoạn thẳng cách đều, cắt dán các hình theo yêu cầu.

Lớp 2, 3: HS được tiếp tục rèn luyện kĩ năng cắt các hình chữ nhật, tam giác, hình tròn, làm biển báo giao thông và biết nhận dạng các hình. Để hoàn thàn nội dung này, HS làm quen với khái niệm đường thẳng, cạnh, đường chéo hình vuông thông qua các bài học như: Làm dây xúc xích trang trí, làm đèn lồng, đan nong mốt, nong đôi…

Lớp 4, 5, HS tiếp tục được làm quen với các vạch dấu hình khâu, đường thêu, đo khoảng cách, đánh dấu cách đều… Như vậy, rõ ràng rằng kiến thức Toán học được tích hợp cụ thể trong nội dung môn học Thủ công- Kĩ thuật ở Tiểu học.

-  Yếu tố sinh học, Địa lí, môi trường… được tích hợp trong môn học:

Lớp 4, 5, HS được làm quen với kĩ thuật trồng một số loại cây rau, cây hoa, làm quen với kĩ thuật chăn nuôi… Liên quan đến kĩ thuật trồng trọt và chăn nuôi, học sinh được trang bị kiến thức về các yếu tố Địa lí, môi trường (Khí hậu, thời tiết, điều kiện tự nhiên, đất đai..), các yếu tố về kĩ thuật (kĩ thuật chọn giống, thức ăn, cách chăm sóc, vệ sinh môi trừơng…) cho cây trồng và vật nuôi. Như vậy, kiến thức của nhiều môn học được tích hợp vào nội dung này, đồng thời nó còn tạo cơ hội để HS được tham gia vào  sản xuất.

- Yếu tố Mĩ thuật tích hợp trong môn học:

Khi HS học trang trí lọ hoa, thực hành trang trí thiếp chúc mừng, làm đồ chơi đén lồng, dây xúc xích rang trí hay thêu hoa, lá, cành… Để thực hiện nhiệm vụ, HS chọn màu sắc, mẫu trang trí, mẫu thêu…theo sở thích thẩm mĩ của mình. Qua thực hành, sự sáng tạo và óc thẩm mĩ … của các em phát triển. Sản phẩm đẹp, đúng kĩ thuật đã tạo ra hứng thú cho các em. Như vậy môn học Thủ công đã tích hợp theo hướng xuyên môn.

3 Tư tưởng tích hợp thể hiện trong môn Tự nhiên và xã hội

Chương trình Tự nhiên và xã hội được cấu trúc theo quan điểm tích hợp thể hiện ở các điểm sau:

- Chương trình xem xét Tự nhiên- con người- xã hội trong một thể thống nhất, có sự liên hệ qua lại và tác động lẫn nhau trong đó con người là yếu tố trung tâm. Qua đó học sinh có những hiểu biết:

+ Những hiểu biết ban đầu về con người ở các khía cạnh sinh học (Sơ lược về cấu tạo, chức phận và hoạt động của các cơ quan trong cơ thể…), khía cạnh nhân văn (tình yêu những người trong gia đình, bạn bè, xóm giềng và thiên nhiên…), khía cạnh về sức khỏe (giữ vệ sinh thân thể, môi trường sống xung quanh, phòng tránh một số bệnh thông thường và tai nạn…)

- Các kiến thức trong chương trình là sự thể  hiện việc tích hợp kiến thức của một số ngành khoa học như: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí, Lịch sử, Giáo dục sức khỏe, Giáo dục môi trường, Dân số…

-  Tùy vào nhận thức của HS ở từng giai đoạn của GD tiểu học, chương trình có cấu trúc phù hợp. Ở giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3), tri giác của các em mang tính tổng thể, việc thu nhận kiến thức chủ yếu dựa vào tri giác trực tiếp, khả năng phân tích chưa cao, khó nhận ra mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, vì vậy chương trình có cấu trúc dưới dạng chủ đề, bao gồm 3 chủ đề: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên.

Giai đoạn 2 (lớp 4, 5), khả năng phân tích và tư duy trừu tượng của HS phát triển hơn, thay thế một phần cho tri giác mang tính tổng thể và trực giác, vì vậy chương trình có cấu trúc theo các môn học tích hợp, bao gồm hai môn học: Khoa học, Lịch sử và Địa lí.

- Chủ đề được chọn chung cho cả 3 lớp đầu cấp là: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên. Tuy nhiên, các chủ đề này được mở rộng và nâng cao dần theo các lớp, hay nói khác đi là được xây dựng theo hướng đồng tâm và phát triển từ thấp đến cao, từ gần đến xa. Ví dụ chủ đề “Gia đình”ở lớp 1, với thời lượng 1 tuần, HS chỉ cần biết các thành viên trong gia đình có 2 thế hệ . Sang lớp 2 thời lượng tăng lên 2 tuần với yêu cầu HS biết được các thành viên trong gia đinhg 3 thế hệ , mối quan hệ giữa các thành viên và công việc hàng ngày của mỗi người. Đến lớp 3, thời lượng là 3 tuần, nội dung về gia đình được mở rộng hơn rất nhiều. HS không chỉ hiểu gia đình nhiều thế hệ mà còn hiểu về họ hàng nội ngoại, mối quan hệ giữa họ nội, họ ngoại như thế nào trên cơ sở hình thành thế hệ mới.

Tương tự như vậy, chủ đề “Tự nhiên” cũng được nâng cao và mở rộng dần. Nếu ở lớp 1với thời lượng 8 tuần, HS chỉ biết đại diện 1 số cây, 1 số con vật cá thể (Cây hoa, cây rau, cây gỗ; con cá, con gà, con mèo, con muỗi), ích lợi và tác hại của các cây, con cá đó, thì sang đến lớp 3 chủ đề “Tự nhiên” đã tăng lên 18 tuần với những nội dung phong phú hơn nhiều: HS không chỉ biết  tên của một số cây, con cá thể mà đã hiểu được đặc điểm sinh học bên ngoài và cấu tạo cơ thể của một số loài thực vật (thân bò, thân leo, thân đứng), động vật (loài côn trùng, loài chim, loài thú, loài tôm, cá…), như vậy HS đã nhận diện được sự phong phú, đa dạng của thế giới thực vật, động vật.

Với cách cấu trúc như trên, môn Tự nhiên và xã hội đã thể hiện rất rõ tư tưởng tích hợp theo hướng đồng tâm, vì kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới.

4. Yếu tố tích hợp thể hiện trong chương trình môn Lịch sử và Địa lí

Lịch sử và địa lí đều giúp cho HS có những hiểu biết về con người và những hoạt động của họ trong các môi trường khác nhau. Lịch sử đi sâu vào việc tìm hiểu những hoạt động của con người từ nguồn gốc đến nay, trong khi địa lí chủ yếu quan tâm tới quan hệ tương tác của con người với môi trường trong hiện tại.

Việc tích hợp nội dung lịch sử và địa lí được thể hiện bằng mối quan hệ liên môn. Điều này có nghĩa là có sự phối hợp khá chặt chẽ về nội dung, phương pháp và kế hoạch dạy học giữa lịch sử và địa lí, nhưng mỗi môn vẫn được đặt riêng. Khi tiến hành dạy học chương trình này, GV cần tăng cường kết hợp những nội dung có liên quan mật thiết với nhau giữa hai phần, có thể bằng nhiều cách như:

- Thay đổi thứ tự nội dung của một trong hai phần. Ví dụ bài “Bản đồ và cách sử dụng Bản đồ Việt Nam” nên tiến hành dạy những kiến thức cần dùng chung cho cả 2 phần trước. Ví dụ: Những kiến thức về bản đồ và sử dụng bản đồ được dạy trước. Với cách này GV phải sắp xếp lại trình tự nội dung trong bài.

- Liên hệ kiến thức gần nhau giữa 2 phần. ví dụ: khi dạy học nội dung” Thiên nhiên và hoạt động của con người ở vùng đồng bằng Bắc bộ”, GV có thể liên hệ với kiến thức lịch sử ở bài “Nhà Lí rời đô ra Thăng Long” hoặc dạy bài “Kinh thành Huế” có thể liên hệ với nội dung địa lí ở bài “Thiên nhiên và hoạt động của con người ở vùng đồng bằng duyên hải miến Trung”…

5. Tư tưởng tích hợp trong môn Toán

Chương trình môn Toán ở tiểu học thể hiện tính tích hợp trong cấu trúc nội dung, trong mối quan hệ liên môn, trong việc kết hợp giữa trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho HS.

Trong môn Toán, tính tích hợp thể hiện rõ nhất trong quá trình học toán và giải toán. Một tiết học toán ở trường tiểu học có thể được tiến hành xen kẽ, HS vừa được học về một phép tính nào đó, nhưng sau lại có thể chuyển sang hoạt động đếm số hình tam giác có ở một hình vẽ, rồi lại có thể tiến hành sắp xếp các số theo thứ tự từ lớn đến bé. Như vậy môn Toán tích hợp theo hướng chú trọng các mối liên hệ trong nội môn môn học. Môn học được cấu trúc thành chỉnh thể thống nhất, không nhấn mạnh ranh giới. Môn Toán ở tiểu học bao gồm các mạch kiến thức và kĩ năng thuộc các lĩnh vực số học, đại lượng, yếu tố đại số, yếu tố hình học và giải toán, nhưng không chia thành các phân môn.

Học toán gắn bó chặt chẽ với học Tiếng Việt và Văn học. Các kiến thức, kĩ năng về Tiếng Việt hỗ trợ cho việc học Toán rất nhiều. Học yếu về Tiếng Việt thì không hiểu được đề Toán, không trình bày, diễn đạt chính xác được bài giải. Ngược lại, trong giờ học Toán cũng góp phần rèn luyện cách viết, cách diễn đạt chính xác, rõ ràng, mạch lạc, có hệ thống. HS lớp 1 có vốn từ rất hạn chế nên chưa thể yêu cầu cao khi trình bày bài giảng bằng câu văn đầy đủ. Việc này phải tiến hành dần từng bước, đồng bộ với những bước tiến khi học về Tiếng Việt. Vừa học toán vừa phải giúp các em phát triển vốn từ thông qua các ví dụ, thông qua các câu hỏi, các câu trả lời.

Trong một tiết học Toán, có thể có những thời điểm học xen kẽ các nội dung về Tự nhiên và xã hội, Tiếng Việt, Đạo Đức…mà vẫn phục vụ chủ đề chính của tiết học toán. Các bài toán như trồng cây gây rừng, bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, chấp hành luật an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm…, vừa rèn luyện tư duy, kĩ năng tính toán, vừa kết hợp giáo dục nhận thức của trẻ về nhiều lĩnh vực khác nhau. Thông qua học toán, có thể giúp các em tăng thêm vốn sống, hiểu biết về xã hội, sửa chữa những sai lầm trong suy nghĩ.

Top