Năm 1985, UNESCO Khu vực đã tổ chức một một thảo tại Băng cốc, Thái Lan, nhân 10 năm ngày thành lập. Taị hội thảo này, các học giả đã đưa ra nhiều xu hướng đồng thời cũng là những thách thức mà giáo dục trong những năm đầu của thế kỷ 21 phải đối mặt:
· Những biến đổi lớn do tác động tổng hợp của sự bùng nổ dân số, những phát triển vượt bậc về kinh tế, công nghệ và những tác động rất sâu sắc của những biến đổi về văn hoá và giá trị.
· Tác động của giáo dục, công nghiệp hoá, đô thị hoá, sự xói mòn của các cơ cấu xã hội cũ và xự xuất hiện những cơ cấu xã hội mới, sự mở rộng của hệ thống thông tin và viễn thông. Giáo dục phải làm gì để cung cấp cho con người công cụ để sống một cách năng động mà không cam chịu thất vọng ?(1)
Trong khi đó, Ts. Hawrylyshin đưa ra những nhân tố nổi bật tác động đến loài người có thể đoán trước được là ”Dân số tăng nhanh, cạn kiệt tài nguyên, giao thời của nền văn minh dầu lửa, đô thị hoá tăng nhanh, thất nghiệp hàng loạt ở Thế giới Thứ III, giáo dục phát triển, sự phụ thuộc lẫn nhau tăng lên và những khả năng huỷ diệt lẫn nhau cũng lớn làm cho các xã hội khác nhau phải chấp nhận cùng tồn tại hoà bình có thể chấp nhận được “(2).
Một công trình nghiên cứu ở Mỹ có tên là “Jencks study “lại đưa ra những phát hiện khác cũng rất hấp dẫn , thậm chí còn đôi chút lạ lẫm với chúng ta, đó là :
1. Sẽ có những bất bình đẳng rất lớn về vị trí xã hội, thu nhập và các cơ hội giáo dục và tất cả những nhân tố này có liên quan với nhau một cách chặt chẽ và tích cực .
2 Sự thành đạt trong cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào năng lực bẩm sinh, và hoàn cảnh xã hội và một nhân tố khác “ may mắn có ảnh hưởng không kém gì năng lực và thu nhập” ( Life success depends highly on native ability, social background and another factor , “luck has as much effect as competence or income “ ).
3. Những nhân tố học đường ít có quan hệ với sự thành đạt trong cuộc sống. Tính cách của một học sinh ra trường phần lớn phụ thuộc vào tính cách lúc họ vào trường . Mọi thứ khác sẽ chỉ là thứ yếu hoặc không còn hoàn toàn phù hợp...
4. Công bằng có thể thực hiện được bằng cách phân phối lại thu nhập. Trong khi nhà trường ít có khả năng thực hiện điều này thì nó lại được sử dụng để giúp con người có những trải nghiệm nhân văn để hoà nhập với thế hệ tiếp sau họ” ( 3)
-------------------
(1).Soediatmoto, The Twenty-First Challenge to Learning. Education for Development – Challenges : Dilemmas. UNESCO Regional Office for Education in Asia and the Pacific,
(2). Sđd, trang 27.
(3). Sđd, trang 44.
Công trình nghiên cứu Jencks có ảnh hưởng sâu sắc ở Mỹ trong suốt những năm 1960 và sau này và sau đó ảnh hưởng tới cả Anh và Úc .
Tuy nhiên, xét từ quan điểm tâm lý và giáo dục học Mác-xít thì phát hiện thứ hai cần phải xem xét lại vì nó phủ nhận vai trò của giáo dục trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người trong khi lại quá đề cao năng lực bẩm sinh ( yếu tố di truyền ) và sự may mắn. Tâm lý học Mác xít không phủ nhận vai trò của năng lực bẩm sinh và môi trường xã hội nói chung nhưng khẳng định vai trò quyết định của giáo dục trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người và trang bị những kỹ năng và kiến thức cần thiết cho họ bước vào cuộc sống lao động và trong việc xã hội hoá con người, biến họ từ con người sinh vật thành con người xã hội.
Phát hiện thứ 3 “ Những nhân tố học đường...” là một phát hiện quan trọng, làm giảm bớt sự lo ngại của các nhà giáo dục đối với những học sinh lưu ban. Điều này đã được UNESCO tái khẳng định trong cuốn “ Education on the Move “ được xuất bản tại
Có thể nói, hai thập kỷ cuối thế kỷ 20 là thời kỳ sôi động mà các nhà nghiên cứu, tiên tri cố gắng tìm kiếm , đưa ra những dự đoán , dự báo về xu hướng phát triển của từng nước, từng khu vực và toàn cầu trong những năm đầu thế kỷ 21.
2. Kế hoạch hoá dài hạn-công việc bắt buộc phải làm.
Một hằng số tuyệt đối tác động tới tất cả các nước trên hành tinh là sự thay đổi. Không phải chỉ có thay đổi chắc chắn luôn luôn xảy ra mà tốc độ của thay đổi có thể sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới. Người ta dự đoán, hơn một nửa tri thức mà nhân loại tích luỹ được trong toàn bộ quá trình phát triển của mình tập trung vào 25 cuối của thế kỷ 20. Những tri thức mới này đã mang lại nhiều hy vọng mới , sản sinh ra nhiều công nghệ vị lai ( futuristic technologies – còn được hiểu là công nghệ dự báo) nhưng đồng thời cũng gây ra rất nhiều vấn đề hệ trọng đe doạ sự tồn tại của loài người. Theo một quan điểm lạc quan, những vấn đề đó sẽ tạo cơ hội để tạo ra những sự kiện và hoàn cảnh ngẫu nhiên, thúc đẩy sự thay đổi theo hướng đúng.
Thực tế cho thấy giáo dục có được sức sống và lý do tồn tại từ những lực lượng kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo và khoa học và giữa chúng có tác động qua lại với giáo dục. Những lực lượng này là thước đo những thay đổi tác động tới giáo dục và đồng thời chúng cũng bị ảnh hưởng bởi các cuộc cải cách giáo dục. Giáo dục trong tương lai không thể xem nhẹ những lực lượng này vì chúng tạo ra thay đổi.
Nếu giáo dục có vai trò đúng trong việc hoạch định tương lai, thì các nhà lãnh đạo giáo dục phải tập trung những nỗ lực kế hoạch hoá dài hạn vào những điều kiện tương lai, nghiên cứu những khả năng tương lai và tận dụng những kỹ thuật dự báo giáo dục để mở ra tương lai.
Nhân Ngày Kỷ Niệm Vàng của mình, Tạp chí “ U.S. News and World Report “ đã xuất bản phụ trương ngày 9 tháng 5 năm 1983, tập 95, số 18 có tựa đề “ Năm Mươi Năm Tới Sẽ Mang Lại Những gì ? “. Phụ trương này đã phác hoạ một tương lai vào năm 2033 với quan điểm của nhiều chuyên gia nổi tiếng từ rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Chúng tôi xin trích đoạn sau đây để chứng minh cho những dự báo thú vị của họ :
“ Con người sẽ sống khoẻ mạnh tới 100 tuổi hoặc hơn vì thần dược có khả năng chữa được những bệnh như ung thư và lão suy. Kỹ thuật gien sẽ mở rộng việc sản xuất lương thực và hạn chế sự ô nhiễm môi trường. Các thuộc địa vũ trụ ( space colonies )có trên khắp hành tinh và mặt trăng sẽ được khai thác để làm giầu cho trái đất. Rôbốt sẽ làm cả công việc trong nhà và trong các nhà máy và xe cộ sẽ được lập trình để tránh tai nạn... Những thành phố nổi sẽ chứa được hàng ngàn người. Tàu hoả bay sẽ chạy với vận tốc 250 dặm/giờ. Những siêu cường ngày nay sẽ bị thách thức bởi những nước Thế Giới Thứ III, những nước sẽ chiếm 85% dân số thế giới vào năm 2033 . Những nước nghèo hơn này sẽ thất vọng tìm kiếm một phần lớn hơn mà thiên nhiên ban tặng. Kinh tế sẽ là ngôn ngữ chung của ngày mai khi thương mại thế giới liên kết các nước với nhau ngày càng chặt chẽ hơn.”(1)
Tất nhiên chúng ta cố gắng tránh những sự kiện tiêu cực như chiến tranh, thất nghiệp, xuống cấp môi trường, nghèo đói, mù chữ và tác động để tạo ra được các sự kiên tích cực như hoà bình, tỷ lệ có việc làm cao, không thiếu thốn, xoá được mù chữ.
2.1. Cuộc khảo sát về xu thế của INNOTECH.
SEAMEO INNOTECH có nhiệm vụ giúp đỡ các nước thành viên phát hiện những vấn đề giáo dục chung và riêng , đồng thời dự báo nhu cầu và giúp cho việc giải quyết những vấn đề và nhu cầu đó thông qua công tác nghiên cứu và triển khai, tập huấn, truyền bá thông tin và các chương trình đặc biệt khác dẫn tới sự phát triển giáo dục trong khu vực.
---------------------
(2). Drucker, Pete F. Managing For Results.
Giáo dục là một lĩnh vực cực kỳ phức tạp bao gồm các mặt rất đa dạng như khoa học xã hội, khoa học vật lý và tự nhiên, công nghiệp, sinh thái, tôn giáo , y tế, dinh dưõng, dân số học và nông nghiệp. Với tư cách là một chỉ báo thay đổi đáng tin cậy về những phát triển và hướng đi tương lai, giáo dục phải được xem xét trong mối liên hệ giữa nó với những lĩnh vực trên như thế nào. Do vậy, điều quan trọng là phải theo dõi tình trạng giáo dục trong bối cảnh của những diễn biến quan trọng trong những lĩnh vực khác nhau này cũng như ý nghĩa của chúng trong tương lai.
Những người tham gia Dự án này gồm các nhà kế hoạch hoá giáo dục, các nhà hoạch định chính sách, các viện sĩ, chuyên gia nghiên cứu và những người đang công tác trong 18 lĩnh vực sau đây : nông nghiệp, dân tộc học, công nghệ thông tin, dân số học, sinh thái học, kinh tế học, giáo dục, sức khoẻ và dinh dưỡng, khoa học xã hội và nhân văn, công nghiệp, ngôn ngữ, giáo dục học quản lý, khoa học chính trị và pháp luật, tâm lý học, khoa hoc. vật lý và tự nhiên, xã hội học và thống kê-toán học. Trong số 321 người tham gia thì có 292 người thuộc chuyên gia khu vực ĐNA và 29 chuyên gia ngoài khu vực.
Sau 3 vòng sàng lọc những ý kiến nổi bật được các chuyên gia đồng thuận ở mức cao, từ danh sách gốc là 30 lực lượng tạo ra thay đổi (forces for change) trong tương lai, Dự án đã xử lý kết quả vòng 3 và đưa ra được một danh sách mới gồm 21 lực lượng do kết hợp một số lực lượng thành một lực lượng mang tính bao quát và tổng hợp hơn, cụ thể là :
1. Sự bùng nổ tri thức.
2. Công nghiệp hoá.
3. Quốc tế hoá( toàn cầu hoá).
4. Sự phát triển kinh tế.
5. Mở rộng nền kinh tế thị trường.
6. Tìm kiếm sự ổn định chính trị, tham gia của mọi người và tôn trọng nhân quyền.
7. Sự xuống cấp của môn trường và cạn kiết tài nguyên.
8. Sự gia tăng dân số.
9. Chủ nghĩa dân tộc ngày càng tăng, bảo vệ văn hoá và phát triển ngôn ngữ.
10. Tăng cường liên kết về chính trị và kinh tế trong khu vực.
11. Vai trò ngày càng tăng của tôn giáo.
12. Nhật bản có ảnh hưởng ngày càng lớn .
13. Phụ nữ ngày càng tham gia vào quá trình phát triển.
14. Nghèo đói và thất nghiệp.
15. ý chí trong việc hoạch định chính sách, kế hoạch hoá và quản lý.
16. Thiếu lực lượng lao động có tay nghề cao để phục vụ công nghiệp hoá trong khu vực.
17. Tái đề cao các giá trị gia đình truyền thống.
18. Tính cơ động ngày càng lớn của lực lượng lao động.
19. Vai trò ngày càng cao của Trung Quốc và tiếng Trung Quốc trong khu vực.
20. Vai trò ngày càng tăng của các ngành dịch vụ và giáo dục nghề.
21. Viễn thông và vận tải. (1)
Sau khi tổng kết Dự án, người ta đã tổ chức Hội Thảo Của Nhóm Chuyên Gia Đánh Giá trong 3 ngày từ 15-17 tháng 7 năm 1992 nhằm thảo luận và rút ra những xu hướng lớn tác động tới giáo dục, đồng thời xây dựng những bức tranh toàn cảnh của giáo dục vào năm 2015 theo 3 mức : bức tranh lạc quan, bức tranh trung bình và bức tranh bi quan và những giải pháp lựa chọn chiến lược cho tương lai.
Căn cứ vào 5 cơ sở là : Lịch sử và văn hoá; môi trường; sự phát triển kinh tế công nghiệp; những xu hướng lớn và những vấn đề còn tồn đọng cần phải giải quyết, các đại biểu đã thảo luận kỹ 21 lực lượng tạo ra sự thay đổi và cuối cùng gộp lại thành 10 lực lượng được ưu tiên cao nhất sau đây ( được xếp theo thứ tự ưu tiên ):
1. Sự phát triển kinh tế.
2. Sự bùng nổ tri thức.
3. Công nghiệp hoá.
4. Sự xuống cấp của môi trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên.
5. Tìm kiếm sự ổn định chính trị, tham gia của mọi người và tôn trọng nhân quyền .
6. Chủ nghĩa dân tộc ngày càng tăng, bảo tồn văn hoá và phát triển ngôn ngữ.
7. Sự gia tăng dân số.
8. Ý chí chính trị trong việc hoạch định chính sách, kế hoạch hoá và quản lý.
9. Viễn thông và vận tải.
10. Tăng cường liên kết về chính trị và kinh tế trong khu vực. (2).
Có thể khẳng định, những lực lượng tạo ra sự thay đổi ( forces for change ) trên đây đồng thời cũng là những xu hướng lớn trong khu vực ĐNA vào năm 2015 và cũng là những thách thức mà giáo dục phải đối mặt thông qua những hành động cụ thể của mình.
2.2. Cuộc Khảo Sát
Cũng liên quan tới việc nghiên cứu những lực lượng tạo ra thay đổi ( forces for change ) với tư cách là những xu hướng lớn của những thập kỷ đầu của Thế kỷ 21 ( vào năm 2020 ), thách thức giáo dục và đào tạo của các nước, một cuộc khảo sát khác trong Dự án có tiêu đề “ Người Công Dân Đa Diện : Chính Sách Giáo Dục Cho Thế Kỷ 21” đã được tiến hành từ tháng 9 năm 1995 tới tháng 1 năm 1996. Nhóm chuyên gia nghiên cứu gồm các nhà hoạch định chính sách, học giả, giáo sư của các trường đại học,viện nghiên cứu của châu á, châu âu và Bắc Mỹ gồm các nước Thái Lan, Nhật, Hồng Kông , Hà Lan, Anh, Hy Lạp, Hung-ga-ry, Đức, Mỹ, Canada. Sau khi xử lý và phân tích số liệu, các chuyên gia trong Dự án đã rút ra 7 xu hướng có tính toàn cầu sau đây :
1. Hố ngăn cách về kinh tế giữa các nước và nhân dân trong cùng một nước ngày càng tăng lên một cách có ý nghĩa.
---------------------
(1) .Xem thêm PACITA I. HABANA. Building Scenarios for Education in
2. Công nghệ thông tin sẽ làm giảm đi đáng kể quyền riêng tư của cá nhân.
3. Những bất bình đẳng giữa những người có điều cận tiếp cận với công nghệ thông tin và những người không có điều kiện tăng rất nhanh.
4. Xung đột về quyền lợi giữa các nước phát triển và đang phát triển gia tăng do sự suy thoái môi trường.
5. Chi phí cho việc có đủ nước sạch sẽ tăng mạnh do gia tăng dân số và môi trường xuống cấp.
6. Tình trạng phá rừng sẽ tác động mạnh tới tính đa dạng của sự sống, chất lượng nước, đất và nước.
7. ở những nước đang phát triển, tình trạng gia tăng dân số nhanh sẽ dẫn tới sự tăng vọt về số dân, đặc biệt là trẻ em sống trong nghèo đói. (1)
Có thể thấy hai cuộc khảo sát lớn : một cho các nước ĐNA và một cho toàn thế giới chúng ta thấy có những xu hướng chung và có những xu hướng mang tính đặc thù khu vực .Từ nhãn quan của những chuyên gia nghiên cứu trong khoa học giáo dục, có chú ý đúng mức tới tất cả những vấn đề hữu quan, chúng ta có thể thấy mỗi một xu thế hay thách thức
vừa nêu đều đặt ra hàng loạt vấn đề mà giáo dục và đào tạo phải giải quyết trong những năm đầu Thế kỷ 21. Chúng tôi xin nêu lên vài suy nghĩ về những vấn đề phải giải quyết nảy sinh từ một số trong những xu hướng chung làm ví dụ.
· Sự gia tăng dân số và di cư ở các nước đang phát triển:
Đây là vấn đề được nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã khẳng định . Gia tăng dân số đặt ra hành loạt vấn đề sau đây phải giải quyết cho các ngành, trong đó có giáo dục :
1. Phải có cam kết về giáo dục cho tất cả mọi người mà không chỉ còn thuần tuý là cung cấp cơ sở vật chất cho giáo dục.
2. Vai trò của các chương trình giáo dục từ xa ngày càng tăng đồng thời người ta có như cầu về các hệ thống giáo dục lựa chọn và những phương pháp tiếp cận phi truyền thống với giáo dục.
3. Các nguồn lực cho giáo dục sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu của sự gia tăng dân số.
4. Con số tuyệt đối người mù sẽ tăng lên.
5. Các cơ hội học tập có chất lượng cho học sinh sẽ tốt hơn thông qua việc học tích cực của học sinh, học bổng và các chương trình trợ cấp.
6. Ngày càng có nhiều nhu cầu về các phương tiện in và điện tử phục vụ công tác giảng dạy.
7. Nhu cầu đối với các chương trình thích hợp để thu hẹp hố ngăn cách giữa giáo dục và công nghiệp sẽ lớn hơn.
8. Giáo dục sẽ cạnh tranh với các ngành khác để giành lấy nguồn lực hữu hạn.
9. Sinh đẻ có kế hoạch/kế hoạch hoá gia đình sẽ phải thực hiện tốt hơn do sự bùng nổ dân số.
11. Người ta ngày càng quan tâm tới xã hội học lão khoa vì tuổi thọ tối đa của con người ngày càng tăng.
12. Ngày càng có nhiều trung niên trong cơ cấu dân số.
Thách thức này cũng đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và giải quyết những vấn đề sau đây :
1. Nhu cầu về giáo dục môi trường ngày càng lớn.
2. Sự phát triển bền vững.
3. Đề cao việc bảo vệ môi trường và phát triển các cộng đồng địa phương.
4. Những trao đổi mang tính liên môn về kiến thức ,về khoa học môi trường, cả lý thuyết và ứng dụng ngày càng rộng.
5. Hiểu và giải quyết những vấn đề về môi trường cả ở cấp địa phương và quốc tế.
6. Các học giả về nhân văn sẽ quan tâm tới sinh thái học.
7. Cần phải có chương trình quốc gia nhằm nâng cao nhận thức về sự xuống cấp của môi trường và khắc phục tình trạng đó.
8. Những nước đang phát triển cần phải hợp tác với nhau để bảo vệ rừng và môi trường.
9. Cần phải giải quyết những mất cân đối trong tự nhiên như sự ấm lên của trái đất do lạm dụng môi trường, sự tuyệt chủng của loài sinh vật này kéo theo sự xuất hiện hay suy giảm số lượng của những loài sinh vật khác gây hại cho môi trường...
10. Sẽ phải khai thác các nguồn năng lượng lựa chọn.
· Toàn cầu hoá/quốc tế hoá :
Trong bài phát biểu của mình tại Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội nhân chuyến thăm Việt Nam ngày 17 tháng 11 năm 2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton nói “Toàn cầu hoá là không phải một cái gì đó mà chúng ta có thể ngăn cản hoặc loại trừ được. Nó là một qui luật kinh tế giống như sức mạnh của tạo hoá là gió và nước. Chúng ta có thể khai thác gió làm cho buồn căng gió. Chúng ta có thể sử dụng nước để tạo ra năng lượng. Chúng ta có thể cố gắng làm việc để bảo vệ nhân dân và tài sản tránh bão lụt. Nhưng từ chối sự tồn tại của gió và nước hay tìm cách loại bỏ chúng thì thật là vô nghĩa. Toàn cầu hoá cũng vậy. Chúng ta có thể nỗ lực để phát huy tối đa lợi ích của nó và giảm thiểu những rủi ro mà nó gây ra nhưng chúng ta không thể bác bỏ xu hướng này và nó sẽ không mất đi”(1). Như vậy, chúng ta càng có những căn cứ để khẳng định toàn cầu hoá là xu thế không thể đảo ngược và khiến chúng ta phải quan tâm tới những vấn đề sau đây :
1. Sản phẩm của công nghiệp và giáo dục cũng như của các lĩnh vực khác phải đáp ứng được những tiêu chuẩn quốc tế.
2. Thị trường thế giới thay đổi rất nhanh nên nó đòi hỏi phải có thông tin cập nhật, chính xác, đủ và thích hợp.
3. Quốc tế hoá về giáo dục và quản lý giáo dục.
4. Hệ thống giáo dục phải phát triển sự sành điệu của học sinh trong việc nhìn nhận các công ty đa quốc gia.
(1).W.J.Clinton, Remarks to
5. Học sinh sẽ phải học lịch sử, địa lý thế giới và phải giao lưu với bạn bè ở các nước khác trên thế giới.
6. Giáo dục đại chúng sẽ mở rộng các cơ hội giáo dục cho mọi người.
7. Đánh giá lại và cập nhật chương trình học để bắt kịp với những đòi hỏi đang thay đổi.
8. Xây dựng nền móng đúng đắn cho việc học tập để học sinh có thể xử lý được những phức tạp của kiến thức hiện đại.
9. Phải có những cố gắng mới để hiện đại hoá và nâng cao khả năng làm chủ tiếng Anh với tư cách là một ngôn ngữ quốc tế.
10. Cần phải giải quyết những vấn đề của di dân và xuất cư nảy sinh.
11. Tăng cường giao lưu điện tử, truyền tin qua vệ tinh, viễn thông đường dài vô tuyến.
12. Cần có nhiều mạng lưới khu vực và quốc tế cho việc trao đổi thông tin.
13. Tăng cường sự hiểu biết những giá trị quốc gia và quốc tế.
14. Cần phải tiến tới một thế giới đa cực hơn.
15. Nhà trường sẽ trở thành những trung tâm giải quyết vấn đề và giáo viên sẽ trở thành những người hỗ trợ học sinh trong quá trình học tập.
3. Những kết luận và khuyến cáo:
3.1. Kết luận :
3.1.1. Phát triển kinh tế:
Cũng về khía cạnh kinh tế, trong khi các nước đang phát triển nhận mạnh tới khía cạnh liên kết kinh tế khu vực để phát triển thì xu thế thế giới lại nhấn mạnh tới số lượng người sống trong nghèo khổ ngày càng tăng lên ở các nước đang phát triển
3.1.2.Sự phát triển của công nghệ thông tin
Khi công nghệ thông tin, đặc biệt là viễn thông và mạng Internet phát triển và trở thành phổ biến, thành bách khoa toàn thư thông dụng của hàng tỷ người và hàng triệu học sinh thì các nước phát triển nhấn mạnh tới “ tính riêng tư ngày càng bị suy giảm “ và “ sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận với thông tin “ ngày càng tăng, còn các nước đang phát triển lại thuần tuý nhấn mạnh vào lợi ích kinh tế của nó như lầm thế nào để khai thác nguồn thông tin này có hiệu quả nhất, cả trong sản xuất, kinh doanh, buôn bán, cả trong đời sống riêng tư của con người.
3.1.3.Xuống cấp môi trường và cạn kiết tài nguyên:
Người ta ngày càng nhận rõ sự xuống cấp của môi trường do ô nhiễm không khí, đất và nước, chất thải các loại, do thủng tầng ô zôn ,do phá rừng...Nguyên nhân thì nhiều nhưng các nước đã phát triển chỉ nhấn mạnh tới khía cạnh chất lượng đất, nước và không khí bị suy giảm, sự mất dần tính đa dạng sinh học trong tự nhiên , trong cuộc sống hoang dã còn các nước ĐNA lại nhấn mạnh tới ô nhiễm môi trường và khai khác tài nguyên ngày cạn kiệt do sự phát triển kinh tế của họ vẫn phụ thuộc vào việc khai thác những nguồn tài nguyên này.
3.1.4.An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội:
An ninh quốc gia và trật tự an toàn khu vực và xã hội cũng là một trong những xu thế lớn được tất cả các cuộc khaỉo sát nhắc tới . Tuy nhiên, mỗi cuộc khảo sát nhấn mạnh tới một khía cạnh khác nhau. Nếu ở cấp vĩ mô, người ta nhắc tới các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, cục bộ thì khu vực ĐNA lại nhấn mạnh tới sự ổn định về chính trị, sự tham gia rộng rãi của người dân vào quá trình hoạch định, chính sách, kế hoạch hoá và bảo vệ và thực hiện nhân quyền. Giải pháp mà hai loại xu thế đều nhắc tới là tăng cường hơn nữa giáo dục quốc tế, giáo dục vì hoà bình, giáo dục giá trị, giáo dục pháp luật, giáo dục phòng chống ma tuý...
3.2. Khuyến cáo :
Trước những xu thế mới được dự báo, người ta có thể đưa ra nhiều khuyến cáo khác nhau, tuỳ thuộc vào từng gốc độ, từng lĩnh vực. Do nội dung của bài viết không tập trung riêng vào lĩnh vực giáo dục nên chúng tôi xin nêu lên những lĩnh vực chủ yếu cho các nhà hoạch định chính sách lưu tâm giải quyết trong vòng 25 năm tới. Trong những lĩnh vực này, có những lĩnh vực cần được khuyến khích, có những lĩnh vực cần được theo dõi để kịp thời xử lý (1) :
-----------------------
(1). Xem thêm “ Multi-dimensional Citizenship : Educational Policy for the Twenty first Century “ , An Executive Summary of the Citizenship Education Policy Study Project, 1997.
3.2.1 Những lĩnh vực cần theo dõi (mặc dù không ai muốn )
· Cá nhân, gia đình và cộng đồng sẽ mất dần những ảnh hưởng chính trị do mức độ chi phối, kiểm soát của chính phủ ngày càng tăng lên.
· Ngày càng khó phát triển được lòng tin chung vào lợi ích chung.
· Những tội ác liên quan tới ma tuý sẽ ngày càng trong đời sỗng xã hội ở các trung tâm đô thị.
· ý thức cộng đồng và trách nhiệm xã hội của con người sẽ suy giảm đáng kể.
· Chủ nghĩa tiêu dùng sẽ ngày càng tăng lên và ngự trị đời sống xã hội.
3.2.2.Hai khu vực được mong đợi và rất có khả năng xảy ra là :
· Di dân từ những vùng/nước nghèo sang các vùng/nước giàu giữa các nước và trong một nước sẽ các tác động lớn tới trật tự trong và ngoài của các quốc gia.
· Việc sử dụng công nghệ ngày càng nhiều sẽ tạo ra nhiều vấn đề về đạo đức.
Những xu hướng được xác định trong phạm vị này cũng mang phương hướng tiêu cực và có liên quan trực tiếp tới một số trong những phạm vị quan trong nhất của cuộc sống con người mà giáo dục phải quan tâm như giá trị, hành vi đạo đức. Sự lựa chọn chính trị và kinh tế và những vấn đề quan trọng khác vượt qua biên giới của các nước.
Có những xu hướng cần phải được khuyến khích vì chúng cho thấy những người tham gia vào kinh doanh, hoạt động công nghiệp và thương mại cần phải chuyển sang việc sử dụng tri thức và những tập quán tốt cho môi trường nếu họ muốn duy trì, nếu không muốn nói là tăng cường, lợi thế so sánh trên thị trường toàn cầu ,đó là :
3.2.3.Khu vực được khuyến khích và có khả năng xảy ra cao :
· Tri thức sẽ tác động và đẩy nhanh sự phát triển kinh tế thông qua những tư tưởng mới, những cách tân và phát minh.
3.2.4 Khu vực rất được mong đợi nhưng khả năng xảy ra chỉ vừa phải:
· Các công ty ngày càng sử dụng nhiều các biện pháp bảo vệ môi trường để duy trì sức cạnh tranh của mình.
· Những bất bình đẳng mang tính hệ thống sẽ giảm đáng kể ( như về chủng tộc, tôn giáo, giàu nghèo...)
Chúng ta hy vọng các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục , sẽ hành động kịp thời và đón đầu bằng những chính sách cụ thể giải quyết có hiệu quả những xu hướng trên trong những năm tới.
Nguyễn Thanh Hoàn
Viện Nghiên cứu Sư Phạm, HNUE














